Hãy dừng lại nếu không muốn "hại thận"

15:04 |
Suy thận khiến cơ thể bị “ngộ độc” liên tục từ bên trong. Cách tốt nhất để đừng suy thận là bảo vệ trái (quả) thận khi nó còn khỏe. 

Với khoảng 2 triệu đơn vị nhỏ li ti có tên là cầu thận, nhiệm vụ chính của trái thận là lọc máu bằng cách thải phế phẩm trong máu qua đường tiểu và giữ lại cho cơ thể chất còn dùng được. 

Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn như chấn thương, viêm tấy, xuất huyết, bội nhiễm… khiến phần này không thể vận hành như mong muốn thì các chất thải như urê, creatinin, axít uric… tích lũy trong máu rồi vượt quá định mức bình thường. Suy thận khi đó thành hình. Lúc này, nạn nhân chỉ còn trông mong vào chiếc máy lọc thận. 


Mối nguy chạy theo lời đồn 

Thận thường bị đồng hóa với chức năng tiểu tiện. Đúng nhưng chỉ phản ánh một phần rất nhỏ về khả năng đa dạng của trái thận. Thông qua chức năng bài tiết phế phẩm và tái hấp thu dưỡng chất, thận không ngừng lọc máu và điều chỉnh lượng nước trong cơ thể. 

Bên cạnh đó, thận tham gia tiến trình biến dưỡng sinh tố D để chất vôi nhờ đó ở lại trong mô xương thay vì thất thoát qua đường tiểu. Thận đồng thời phóng thích nhiều nội tiết tố quan trọng như erythropoetin để tạo hồng cầu, renin để điều chỉnh huyết áp… Chính vì thế mà bệnh thận không chỉ dẫn đến rối loạn chức năng tiểu tiện mà còn mở ngỏ cho cao huyết áp, thiếu máu, bệnh gút…! 

Có thể nói, bối cảnh y tế ở xứ mình chính là các yếu tố đòn bẩy cho bệnh thận nhưng lại ít khi được lưu ý đúng mức. Đó là: Viêm cầu thận cấp không được điều trị đến nơi đến chốn, phần lớn ở trẻ con vùng sâu, vùng xa; đái tháo đường không được phát hiện vì thiếu biện pháp tầm soát hoặc tuy đã biết nhưng không được điều trị đúng bài bản; lạm dụng thuốc giảm đau do tự chẩn đoán không cần thầy thuốc lại thêm mua thuốc bất cần toa; đáng báo động là tình trạng bệnh nhân thay vì dùng thuốc đặc hiệu lại chạy theo lời đồn kiểu “uống cây thuốc gì đó hết luôn bệnh đái tháo đường”. 

Bệnh thận ít khi có dấu hiệu báo động trước khi đi đến giai đoạn suy thận, hay nếu có lại mơ hồ khiến bệnh nhân và thậm chí cả một số thầy thuốc cũng thờ ơ với trái thận. Quả là đáng tiếc vì việc kiểm soát chức năng thận lại tương đối đơn giản với phương tiện chẩn đoán hiện nay. 

Tự mình hại thận 

Thận không vô cớ bỗng suy trong ngày một ngày hai. Trái lại, đó thường là hậu quả do việc đối xử không công bằng với trái thận, thể hiện qua nếp sinh hoạt: 

Rượu bia, độc tố thức ăn môi trường là nguyên nhân hàng đầu gây thận hư

- Mạnh miệng với rượu bia, thuốc lá. 

- Dùng thuốc giảm đau thường hơn cơm bữa. 

- Không theo dõi huyết áp định kỳ. Không điều trị đến nơi đến chốn mà chỉ dùng thuốc theo kiểu mỗi tháng vài ngày. 

- Quá hạp khẩu với chất đạm động vật trong chế độ dinh dưỡng thường ngày. Tự đầu độc bằng phốt-phát trong nước ngọt có gaz, thịt xông khói, lạp xưởng, sữa đặc có đường… 

- Ăn quá mặn mà quên uống nước cho đủ trong bữa ăn, trong giờ làm việc; không uống bù nước khi đổ mồ hôi. Uống nước không đủ 2,5 lít/ngày vì định kiến uống nhiều hại thận hoặc vì sợ tiểu đêm. 

- Không tầm soát đường huyết và mỡ máu. Đừng quên 25% suy thận là di chứng của bệnh đái tháo đường, 40% là do xơ vữa mạch máu. Béo phì nhưng không chịu vận động để giảm cân. 

Biết là nếu không may mất đi một trái thận thì người ta vẫn có thể sống đến cuối đời với trái thận còn lại nhưng nói thế không có nghĩa là ỷ y theo kiểu mất một còn một. Trái lại, hễ thận suy thường suy cả hai. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay! 

Ai chưa biết suy thận khổ đến thế nào xin thử hỏi người phải vài ngày lọc thận một lần. Bên cạnh gánh nặng tài chính, lọc thận chỉ là giải pháp chữa cháy. Ấy thế mà khi bàn chuyện phòng bệnh, chẳng mấy ai nghĩ đến trái thận một đời tận tụy. 

Ai nên khám thận? 

Nên khám thận khi phát hiện các dấu hiệu dưới đây: 

- Đau lưng âm ỉ ở vùng bẹ sườn dù không vận động nặng. Cơn đau quặn lan xuống bọng đái dù không mắc tiểu. Tiểu ra máu. 

- Nặng mí mắt khi thức dậy. Mắt quầng thâm dù ngủ đủ. Phù mắt cá dù ngồi yên nhiều giờ. Tê bàn tay, bàn chân. 

- Biếng ăn kéo dài. Buồn nôn không liên quan đến bữa ăn. Hôi miệng. - Đau đầu sau vài giờ làm việc. Mệt mỏi dù không lao tâm lao lực. 

- Ngứa ngoài da dù đã dùng thuốc chống dị ứng. Rụng tóc, gãy móng tay. 


Theo Bác sĩ Lương Lễ Hoàng 
Người lao động
Click đọc ngay…

Giảm ăn oxalat phòng chống sỏi thận

10:30 |
Có nhiều loại sỏi thận và tuỳ vào thể trạng mà bạn sẽ dễ bị loại sỏi nào. Với người có nguy cơ bị sỏi oxalate thì chế độ ăn sẽ giúp phòng ngừa sỏi thận hiệu quả. Vậy chế độ ăn như thế nào là ít oxalate? 

Oxalate và sỏi thận 

Axit oxalic hay oxalat được hấp thu từ chế độ ăn được lọc và đào thải gần như hoàn toàn qua nước tiểu. Tuy nhiên, nếu nồng độ nước tiểu trở nên quá cô đặc hoặc quá axit, oxalat trong nước tiểu sẽ phân hủy, kết tủa với ion canxi và tạo thành sỏi. 

Không nên ăn quá nhiều các thực phẩm giàu vitamin C

Đối với thực vật, oxalate giúp giải phóng canxi dư thừa bằng cách liên kết với oxalate. Đó là lý do tại sao nhiều thực vật chứa lượng oxalate cao. Đối với cơ thể người, oxalate được sản xuất trong gan trong quá trình trao đổi glyco hoặc có nguồn gốc từ thực phẩm và không có vai trò gì trong cơ thể người. 

Cơ thể chúng ta tiêu thụ oxalate như thế nào? 

Khi chúng ta ăn thức ăn chứa oxalate, các phân tử này sẽ đi qua đường tiêu hóa và được bài tiết ra ngoài như một chất thải. Khi đi qua ruột, oxalate có thể kết hợp với canxi tạo thành hợp chất canxi oxalate và được bài tiết trong chất thải. Tuy nhiên, khi có quá nhiều oxalate trong thận thì có thể dẫn đến bệnh sỏi thận. Sỏi thận canxi-oxalate là loại sỏi phổ biến nhất. Cơ thể càng có nhiều oxalate thì nguy cơ bị sỏi thận càng cao. 

Nguyên nhân làm tăng oxalate 

Thực phẩm giàu vitamin C có khả năng làm tăng lượng oxalate trong cơ thể. Vitamin C chuyển hóa thành oxalate, và nếu cơ thể nạp hơn 1000mg vitamin C một ngày thì sẽ làm oxalate trong cơ thể tăng cao. Uống thuốc kháng sinh hoặc có tiền sử về bệnh tiêu hóa cũng làm tăng lượng oxalate trong cơ thể. 

Các vi khuẩn tốt trong đường ruột giúp giải phóng bớt lượng oxalate trong cơ thể và do đó khi lượng vi khuẩn này thấp đi thì cơ thể sẽ phải hấp thụ một lượng oxalate cao hơn. 

Như thế nào là chế độ ăn ít oxalate? 

Đối với những người bị sỏi thận hoặc có nguy cơ bị sỏi thận cao nên thực hiện chế độ ăn ít oxalate để giảm nguy cơ này. Đo lường lượng oxalate có trong thực phẩm thường rất khó chính xác bởi vì nó còn tùy thuộc vào thực phẩm đó được thu hoạch khi nào, được trồng ở đâu. 

Ngoài ra, lượng oxalate cũng có thể khác nhau tùy theo cách đo lường do đó cùng một loại thực phẩm có thể có các chỉ số oxalate khác nhau. Vì vậy, nhìn chung người ta chỉ ghi nhận oxalate có nhiều trong thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. 

Thực phẩm giàu oxalate bao gồm trái cây, rau xanh, các loại đậu, các loại hạt và ngũ cốc. Các loại trái cây chứa nhiều oxalate bao gồm các loại quả mọng, kiwi, nho tím. Các loại rau chứa nhiều oxalate bao gồm đậu bắp, tỏi tây, rau bina, củ cải, …

Để giảm lượng oxalate đưa vào cơ thể, cần tránh ăn hạnh nhân, hạt điều, đậu phụng cũng như các loại đậu. Ngoài ra, sô cô la, ca cao và trà cũng là những thực phẩm có lượng oxalate cao. 

Tuy nhiên, các nghiên cứu mới đây cho thấy ăn nhiều thức ăn giàu canxi kèm với thức ăn giàu oxalate tốt hơn là loại oxalate ra khỏi chế độ ăn hàng ngày. Bởi vì trong quá trình tiêu hóa, oxalate và canxi sẽ kết hợp với nhau trước khi đến thận, làm giảm nguy cơ hình thành sỏi thận. Vì vậy thiếu canxi có thể làm tăng lượng oxalate đến thận và do đó tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. 


Bổ sung thêm canxi khi ăn nhiều thực phẩm oxalate giúp làm giảm lượng oxalate trong đường niệu. Chọn các thực phẩm giàu canxi như sữa, yogurt, phô mai hoặc các loại rau như súp lơ, cải xoăn, cải xoong, đậu bặp để làm tăng lượng canxi vào cơ thể. Các cây họ đậu như đậu đỏ, đậu xanh, quả óc chó hay cá hồi cũng chứa khá nhiều canxi. 

Để giảm nguy cơ sỏi thận, hãy thêm các thực phẩm giàu canxi nếu chế độ ăn hiện tại của bạn có nhiều thực phẩm oxalate cao. Chẳng hạn, nếu bạn ăn mầm lúa mì với bột yến mạch, hãy nhớ thêm vào một ít sữa. Nếu bạn thèm ăn sinh tố quả kiwi, hãy nhớ thêm vào một ít sữa để cân bằng. 

Làm giảm lượng muối vào cơ thể cũng có thể làm giảm nguy cơ sỏi thận bởi vì chế độ ăn nhiều muối thường khiến canxi mất đi theo đường niệu. Càng nhiều canxi và oxalate ở thận thì nguy cơ sỏi thận càng tăng.

Xem thêm bài viết liên quan:
>>> Nguyên nhân sỏi đường tiết niệu 

>>> Cơn đau quặn thận, bệnh dễ nhầm

>>> Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ sỏi tiết niệu 

Click đọc ngay…

Uống nhiều nước giúp giảm nguy cơ sỏi tiết niệu

21:12 |
Để bù lại cái nắng nóng ngày hè, cơ thể con người thích nghi bằng cách tăng tiết thải mồ hôi để vừa mát da, hạ nhiệt độ cơ thể xuống và tăng thở ra hơi nước. Nếu không bù lại nước và muối khoáng qua đường uống, lượng nước tiểu sẽ giảm xuống và nguy cơ sỏi đường tiết niệu tăng lên….. 

Xuất nhập nước luôn cân bằng động 

Hằng ngày mức cân bằng của lượng nước trong cơ thể người lớn khoảng ba lít rưỡi. Nước vào cơ thể do ăn uống và chuyển hóa sinh ra; lượng thu vào này luôn luôn “cân bằng động” (homeostasis) với lượng thải ra qua nước tiểu, hơi thở, mồ hôi và phân. 


Mùa nắng hơi thở và mồ hôi nhiều thì nước tiểu ít lại và mùa đông thì ngược lại nước chủ yếu thái qua đường tiểu và phân. 

Tại sao miền người miền Nam nhiều sỏi thận hơn? 

Sự tạo sỏi sẽ dễ dàng hơn khi số lượng tinh thể trong nước tiểu nhiều và lượng nước tiểu để hòa tan lại quá ít không tương xứng. Vào mùa hè thời tiết khô và nóng bức, con người sẽ thải nước ra ngoài chủ yếu qua dạng mồ hôi và hơi thở, do đó lượng nước thải ra đường tiểu ít đi. Đây là lời giải khoa học vì sao tỉ lệ sỏi niệu ở miền Nam cao hơn miền Bắc. 

Kết quả này phù hợp với các thăm dò niệu học của cố GS Ngô Gia Hy và cộng sự đã tiến hành. GS Hy lý giải rằng miền Nam khí hậu nóng hơn nên nước thải ra thường ở dạng mồ hôi và hơi thở nhiều hơn hẳn, ở miền Bắc có gió mùa lạnh lẽo nên chủ yếu đi tiểu nhiều nên nguy cơ sỏi thận ít hơn. 

Điều này tương tự như bí quyết sản xuất bột sắn (bột lọc). Đó là trong giai đoạn tinh lọc bột, nông dân phải khuấy dung dịch bột sắn và cho lắng gạn nhiều lần. Nếu cho quá nhiều nước vào bột sẽ không lắng đọng được như ý, ngược lại cho quá ít nước lại không đủ để hòa tan. 

Sỏi hệ niệu cũng sinh ra theo cơ chế tương tự: nhiều nước khó kết sỏi và ngược lại. 

Ăn ít khoáng, uống nhiều nước ngừa sỏi thận 

Tuy sỏi thận là một bệnh chuyển hóa khá phổ biến ở nước ta về tần suất mắc bệnh lẫn tỉ lệ tái phát, nhưng cũng khá dễ ngăn ngừa và chống tái phát. Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới phác đồ điều trị và ngừa tái phát sỏi thận đều rất đơn giản gồm: 


1. Uống thật nhiều nước: Đây là phương cách chính để phòng ngừa sỏi thận. Có thể uống nước lọc, nước sôi để nguội, nước suối, nước giải khát và cả uống bia. 

Uống nhiều nước đầu vào thì đương nhiên sẽ tăng lượng nước tiểu thải ra. Khi lượng nước tiểu tăng lên, các tinh thể sỏi không thể kết dính thành cục sỏi được. Đặc biệt, khi uống nước chanh, nước cam, nhiều muối citrate sẽ được thải ra trong nước tiểu, ngăn cản sự hình thành sỏi thận. 

2. Tránh ăn thực phẩm quá giàu oxalate, purine...: Các nhóm thức ăn có chứa nhiều gốc oxalate, purine hay nhiều đạm sẽ làm dễ hơn quá trình tạo ra sỏi thận như cải bó xôi, củ cải đường, sôcôla, đậu bắp, thịt nội tạng, thịt đỏ... Tránh uống quá nhiều vitamin C (viên canxi C), nước khoáng giàu carbonate... 

3. Dùng thêm thuốc hỗ trợ: Chủ yếu là lợi tiểu và thuốc chữa các bệnh có xu hướng dễ gây sỏi thận như bệnh gout, hội chứng chuyển hóa... Kim tiền thảo, mã đề, râu ngô… cũng để tăng lượng nước tiểu lên... 

4. Không hạn chế thực phẩm giàu canxi: Trước đây, khi phân tích thành phần hóa học của sỏi thận người ta thấy đa số là sỏi canxi-oxalate. Vì thế có ý kiến cho là phải hạn chế canxi trong thực phẩm để ngừa sỏi. Nhưng khá nhiều công trình khoa học nghiêm túc cho thấy quan niệm sai lầm. 

Canxi trong thực phẩm sẽ kết hợp với oxalate tạo thành phức hợp calcioxalate không hòa tan và không thể hấp thu vào máu, nên sẽ được thải theo phân ra ngoài và dĩ nhiên giúp ngừa sỏi thận. Tương tự, khi ăn quá nhiều oxalate mà không đủ lượng canxi tương ứng, oxalate được hấp thu vào máu sẽ thải ra thận cũng gây nguy cơ sỏi thận. 

Chú ý: Vitamin C (axit ascorbic) cũng có khả năng chuyển hóa thành gốc oxalate. Nếu chúng ta dùng thực phẩm giàu vitamin C (hơn 1000mg vitamin C/ ngày) nguy cơ chất oxalate trong máu sẽ cao và khả năng sỏi thận cũng lớn hơn. 


TS.BS Trần Bá Thoại 
Ủy viên BCH Hội Nội tiết Việt Nam
Click đọc ngay…

Nguyên nhân sỏi đường tiết niệu

18:30 |
Sỏi niệu là bệnh khá phổ biến trên thế giới nhất là ở các vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam sỏi chiếm một tỉ lệ đáng kể, hay gặp ở lứa tuối trung niên từ 30-50 tuổi. Chế độ ăn uống không hợp lý (quá nhiều đạm, hydratcarbon, natri oxalat..), nhiễm khuẩn tiết niệu là yếu tố thuận lợi để sỏi thận dễ phát sinh. 

Nguyên nhân sinh bệnh sỏi tiết niệu

Các nguyên nhân gây ra sỏi tiết niệu bao gồm: thể tích nước tiểu thấp, tăng canxi niệu, tăng oxalat niệu, tăng axit uric niệu, pH nước tiểu > 6.5, giảm bài tiết các chất ức chế như citrate, ứ đọng nước tiểu. 


Bên cạnh đó, rối loạn chuyển hóa đặc biệt là tăng canxi trong nước tỉểu (do hấp thu, do rối loạn chức năng thận, rối loạn chức năng tuyến cận giáp ) 

Sỏi canxi 

Thường gặp nhất là canxi oxalat 85%, dưới 20% là canxi photphat 

- Sự đáp ứng với vitamin D ở ruột bị rối loạn làm tăng hấp thu canxi vào máu đồng thời với sự suy giảm chức năng tuyến cận giáp. Kết quả là một lượng canxi được thải qua thận. 

-Tăng oxalat niệu: bình thường oxalate do thức ăn vào ruột kết hợp với calci niệu rồi theo phân ra ngoài. Ở những bệnh nhân này axit béo tăng lên trong ruột hút một lượng lớn canxi nên thành phần oxalat không kết hợp với canxi sẽ được hấp thu lại rồi bài tiết qua thận. 

- Sỏi canxi photphat thường thấy ở những bệnh nhân rối loạn tiêu hóa hay rối loạn hormon do bệnh cường cận giáp (hyperparathyroidism) và hiện tượng nhiễm toan ống thận. 

Sỏi urat 

Bệnh nhân bị bệnh goute không chỉ dễ bị sỏi urat mà cũng dễ bị sỏi oxalocanxi vì tăng axit uric niệu. Khi pH nước tiểu < 5.5 phần aixt uric không được phân ly khó tan sẽ tạo thành tinh thể axit uric. 

Sỏi struvit 

- Sỏi struvit là do nhiễm khuẫn lâu dài đường niệu, vi khuẩn giải phóng men urease, men này phân giải urê gây tổng hợp amoniac trong nước tiểu giảm, dẫn tới giảm hòa tan struvit tạo điều kiện hình thành sỏi. Sỏi này đứng hàng thứ ba, cấu tạo chủ yếu bởi các tinh thể photpho- amoniac-magne và photpho- canxi. 

Sỏi cystin 

Do cystin bị đào thải nhiều qua thận nhưng ít hòa tan nên dễ đọng thành sỏi. 

Các biểu hiện lâm sàng 

Sỏi có thể không triệu chứng khi không gây bế tắc như sỏi trong đài thận chỉ phát hiện một cách tình cờ khi chụp phim bụng hay làm siêu âm bụng. Những cơn đau dữ dội một cách tình cờ, hay sau lao động mạnh gắng sức, đau như dao đâm liên tục, đau một bên từ góc sườn sống lan về hông lưng rồi xuống bộ phận sinh dục ngoài, có những đợt giảm đau. 

Đôi lúc tính chất cơn đau và hướng lan không điển hình tùy theo vị trí sỏi. Cơn đau có thể kèm rối loạn tiêu hóa: nôn, buồn nôn, liệt ruột; rối loạn tiết niệu như đái rắt, đái ít, đái máu. 

Nguyên nhân đau thường là sỏi di chuyển từ trên đài bể thận xuống gây căng niệu quản và gây tăng áp lực trong lòng niệu quản hơn là co thắt. Có khi sỏi to di chuyển xuống làm tắc niệu quản gây ứ nước thận, thận căng to và đau dữ dội cả vùng trước và vùng sau hố lưng. 

Chẩn đoán cận lâm sàng 

– Xét nghiệm nước tiểu : có nhiều hồng cầu, bạch cầu, vi khuẩn nếu có nhiễm khuẩn. 

– Chụp X quang không chuẩn bị có thể thấy được sỏi, trong một số trường hợp phải chụp UIV trong trường hợp phát hiện sỏi không cản quang(urat). 

– Chụp niệu quản bể thận ngược dòng được thực hiện khi nguyên nhân bế tắc không xác định rõ. 

– Siêu âm bụng có thể phát hiện được sỏi thận với hình ảnh tăng độ siêu âm có bóng lưng đi kèm, vị trí sỏi, hình ảnh trương nở đài bể thận phía trên vị trí bế tắc. 

– Chụp cắt lớp điện toán giúp phân biệt sỏi không cản quang, máu cục hay bướu đường tiểu.

Xem thêm các bài liên quan:  

Click đọc ngay…

Phòng chống viêm đường tiết niệu ở phụ nữ

09:41 |
Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ là một bệnh thường gặp, nhất là lứa tuổi trưởng thành, đã có quan hệ tình dục. Viêm đường tiết niệu gây nên tình trạng mệt mỏi và khó chịu trong đời sống hàng ngày, ảnh hưởng đến lao động, thậm chí gây biến chứng nguy hiểm nếu không chữa trị nghiêm túc. 



Những nguyên nhân viêm tiết niệu



Đường tiết niệu kéo dài từ thận đến lỗ tiểu và có nhiều nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu, trong đó nữ giới có tỉ lệ mắc bệnh nhiều hơn nam giới, bởi cấu tạo của niệu đạo nữ giới ngắn hơn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn dễ bị nhiễm bẩn. 
Viêm đường tiết niệu ảnh hưởng lớn đến sức khỏe phụ nữ

Đó là chưa kể phụ nữ trong những ngày kinh nguyệt hoặc thời kỳ mang thai nếu vệ sinh không sạch sẽ rất dễ viêm đường tiết niệu hoặc có thói quen tắm bồn là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh xâm nhập đường tiết niệu. Bên cạnh đó, ở tuổi trưởng thành nếu không vệ sinh sạch sẽ trước và sau khi quan hệ tình dục hoặc quan hệ tình dục bừa bãi là một trong những nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu. 



Một số trường hợp mắc bệnh sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo) rất dễ dẫn đến viêm đường tiệt niệu. Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn (chiếm tỉ lệ 70%) hoặc vi nấm. 



Vi khuẩn thường hay gặp nhất là E.coli, Proteus, Enterobacter, tụ cầu loại gặp nhiều nhất là S. epiermitidis (tụ cầu da), S. saprophyticus (tụ cầu hoại sinh). Đối với vi nấm thường gặp là Candida albicans. Ngoài ra, có một số yếu tố thuận lợi gây nguy cơ mắc bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, đó là thói quen uống ít nước làm cho việc đào thải chất cặn bã chậm lại hoặc thói quen nhịn tiểu làm cho nước tiểu ứ đọng kéo dài tạo điều kiện cho vi khuẩn, vi nấm tồn tại và phát triển gây bệnh. 



Một số trượng hợp do đi giày cao gót thường xuyên khiến hông và xương sống bị ảnh hưởng, gây nên tiểu tiện không đều, dễ bị viêm nhiễm đường tiết niệu. Ngoài ra, một số tác giả đề cập đến vai trò di truyền trong viêm đường tiết niệu ở nữ giới, có nghĩa là do gen chỉ huy hoạt động của hệ thống tiết niệu bị lỗi. Hoặc do rối loạn thần kinh thực vật chỉ huy, điều hành hoạt động của bàng quang gây rối loạn tiểu tiện có thể gây nên viêm đường tiết niệu. 
Triệu chứng viêm tiết niệu



Viêm tiết niệu ở phụ nữ thường xuất hiện buồn tiểu và rất muốn đi tiểu, có cảm giác đau, tức ở bụng dưới (tương ứng với bàng quang), nhất là lúc đi tiểu. Người bệnh có thể đi tiểu buốt, tiểu rắt, nước tiểu đục, có mùi khai nồng. Các triệu chứng này ngày một nặng thêm. Một số trường hợp có sốt do viêm cấp, nếu bị nhiễm trùng đường tiết niệu ở niệu quản, thận, có thể đau ê ẩm vùng thắt lưng. Nhiều trường hợp xuất hiện tiểu đêm, thậm chí tiểu dầm. 



Viêm đường tiết niệu ở phụ nữ nếu không được phát hiện, chữa trị đúng và người bệnh không thực hiện nghiêm túc do chủ quan, xem thường có thể gây biến chứng viêm đường tiết niệu lan rộng (nhiều bộ phận của đường tiết niệu bị viêm nhiễm), nguy hiểm nhất là gây viêm thận, hậu quả có thể suy thận. Từ viêm đường tiết niệu, vi sinh vật gây bệnh có thể vào máu gây nhiễm trùng huyết. 



Để chẩn đoán viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, ngoài các triệu chứng lâm sàng, cần làm xét nghiệm nước tiểu để tìm căn nguyên gây bệnh (vi khuẩn, vi nấm). Trên cơ sở nuôi cấy vi khuẩn, phân lập được vi khuẩn, có thể thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh có tác dụng mạnh nhất đối với vi khuẩn gây bệnh. 



Bên cạnh đó, cần siêu âm hệ tiết niệu (thận, niệu quản, bàng quang) để phát hiện sự viêm nhiễm và các tác nhân gây cản trở sự lưu thông nước tiểu (sỏi, di dạng, u…). Trong trường hợp cần thiết có thể nội soi (nội soi bàng quang), chụp X-quang, hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT), tốt hơn nữa là chụp cộng hưởng từ (MRI). 
Uống nhiều nước giúp phòng viêm tiết niệu hiệu quả
Nguyên tắc điều trị 



Nguyên tắc điều trị viêm đường tiết niệu là dùng kháng sinh, đủ liều lượng. Nếu xác định được loại vi khuẩn gì và có kết quả của kháng sinh đồ. Bác sĩ điều trị sẽ cân nhắc, xem xét nên dùng kháng sinh gì là tốt nhất, bởi vì, còn tùy thuộc vào đối tượng bị bệnh (đang mang thai, người có tuổi, thể trạng dị ứng…). Vì vậy, người bệnh không nên ngại đi khám bệnh và không được tự chẩn đoán bệnh cho mình và không tự mua thuốc kháng sinh để điều trị. 



Để phòng bệnh viêm đường tiết niệu ở phụ nữ, trước tiên cần vệ sinh vùng kín sạch sẽ hàng ngày, nhất là thời kỳ hành kinh, mang thai hoặc trước và sau quan hệ tình dục. Khi dùng nước để rửa cần phải dội từ trước ra sau để tránh nhiễm bẩn từ hậu môn và mỗi lần đi đại tiện xong, dùng giấy vệ sinh, cần lau từ trước ra sau. 



Sau khi quan hệ tình dục nên đi tiểu ngay để nước tiểu đẩy vi khuẩn ra khỏi niệu đạo, tránh viêm ngược dòng. Cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 1,5 - 2,0 lít) bao gồm cả lượng nước có trong rau, canh, hoa quả… Căn nguyên gây viêm đường tiết niệu chủ yếu do vi khuẩn chiếm tỉ lệ 70% 





ThS.BS. BÙI MAI HƯƠNG

Xem thêm bài viết:

>>> Phòng viêm tiết niệu khi mang thai

Click đọc ngay…

Phòng viêm tiết niệu khi mang thai

09:10 |
Viêm đường tiết niệu là bệnh thường gặp ở nữ giới, đặc biệt xảy ra tần suất cao đối với các trường hợp mang thai. Bất cứ bộ phận nào trong hệ tiết niệu đều có thể bị nhiễm khuẩn, kể từ thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Các ổ nhiễm khuẩn có thể phát hiện sớm trước lúc mang thai hoặc song song trong suốt thai kỳ. 

Điều đặc biệt lưu ý là phụ nữ có thai bị viêm đường tiết niệu có thể gây đẻ non, sảy thai, nhiễm khuẩn sơ sinh… Vì vậy, người bệnh cần được chẩn đoán và điều trị sớm để tránh những biến chứng khôn lường. 

Nguyên nhân nào gây viêm tiết niệu? 


Viêm đường tiết niệu là bệnh do vi khuẩn điển hình là E.coli và vi trùng gây nên. Ngoài ra, cấu tạo giải phẫu của hệ tiết niệu cũng như tính chất nghề nghiệp và lối sống không hợp lý cũng là nguyên nhân gây bệnh. Ở phụ nữ, niệu đạo ngắn hơn nam giới, âm đạo và hậu môn tương đối gần nhau và nằm trên cùng một bình diện, do đó dễ bị lây nhiễm bệnh lý từ bộ phận này qua bộ phận kia. 

Ngoài ra, còn do các nguyên nhân sau: 

Nhịn tiểu quá lâu: Khi nhịn tiểu quá lâu sẽ làm cho viêm nhiễm tăng lên gấp nhiều lần. Do thói quen sinh hoạt như mang giày cao gót thường xuyên làm ảnh hưởng đến xương hông và xương sống khiến tiểu tiện không đều, dễ bị viêm nhiễm đường tiết niệu. 

Đang mang thai: Do thay đổi cấu trúc của xương chậu khi mang thai, phụ nữ mang thai cũng bị mất nhiều nước hơn bình thường, giảm số lần đi tiểu là một trong những nguyên nhân để các vi khuẩn gây viêm nhiễm hoành hành. 

Do rối loạn thần kinh có chức năng kiểm soát bàng quang và một số loại thuốc uống cũng dễ khiến nữ giới bị viêm đường tiết niệu. Phụ nữ bị tiểu đường, đặc biệt những người bị tiểu đường không kiểm soát được cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bình thường. 

Dấu hiệu nhận biết viêm tiết niệu

Khi bị mắc bệnh, người bệnh lúc nào cũng có cảm giác nóng rát khi tiểu tiện, đái rắt, đái buốt, đái khó, đôi khi ra máu (lượng nước tiểu ít và bắt sản phụ phải rặn tiểu trong mỗi lần tiểu tiện). Bệnh nhân sẽ có hiện tượng sốt, đau ở lưng, hông, dưới sườn và nôn ói khi có biểu hiện nhiễm khuẩn. Xét nghiệm cặn lắng nước tiểu: thấy chứa các tế bào mủ, vi khuẩn, hồng cầu nhiều trên vi trường. 

Biến chứng nguy hiểm của viêm đường tiết niệu

Viêm thận, bể thận cấp; Áp-xe quanh thận; Nhiễm khuẩn huyết; Suy thận cấp..., trong đó viêm bể thận là hay gặp hơn cả. Đây là hình thái nặng của nhiễm khuẩn đường tiết niệu đối với thai kỳ hay gặp vào 20 tuần lễ sau của thai nghén, nguyên nhân hay gặp là do nhiễm khuẩn tiết niệu từ dưới ngược dòng lên trên (theo niệu quản). 

Về lâm sàng thường gặp các triệu chứng sau đây: Xuất hiện đột ngột trên một sản phụ bình thường hay có thể gặp ở sản phụ đã bị viêm niệu đạo hoặc viêm bàng quang đã có trước đó. 

Biểu hiện: Tiểu buốt, tiểu khó, tiểu máu; Sốt, rét run, sốt thường cao, có thể 400C; Đau một bên hông hoặc hai bên (lúc khám); Kém ăn hoặc chán ăn; Buồn nôn, hay nôn mửa. Xét nghiệm nước tiểu chứa nhiều vi khuẩn, bạch cầu, mủ... 


Phương pháp điều trị viêm đường tiết niệu 

Đối với thể nhiễm khuẩn tiết niệu không có triệu chứng và thể viêm bàng quang, sản phụ có thể điều trị ngoại trú tại nhà dưới sự theo dõi, hướng dẫn của thầy thuốc. Sử dụng các loại thuốc kháng sinh không có hại cho thai nhi. Sau đợt điều trị, cần phải kiểm tra lại nước tiểu. 

Đối với thể viêm thận - bể thận cấp, sản phụ cần được điều trị tích cực trực tiếp tại bệnh viện. Cần có sự theo dõi và chăm sóc trực tiếp của các bác sĩ chuyên khoa. Tại đây, sản phụ sẽ được tiến hành khám đầy đủ, làm các xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn và chức năng thận, làm siêu âm kiểm tra hệ tiết niệu, siêu âm kiểm tra xem có bị ảnh hưởng tới thai nhi hay không… 

Muốn điều trị có kết quả tốt bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu nên sử dụng kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ. Tuy nhiên, cần tuân thủ nghiêm ngặt theo đơn thuốc của bác sĩ, tránh lạm dụng thuốc kháng sinh cũng có ảnh hưởng không tốt tới thai nhi. Bên cạnh đó, cần có sự chăm sóc về sản khoa như kiểm tra thai, theo dõi tim thai... Nếu có nguy cơ sảy thai thì sử dụng thuốc chống co bóp tử cung (theo chỉ định của thầy thuốc)… 

Lời khuyên của thầy thuốc 

Phụ nữ khi mang thai cần kiểm tra nước tiểu định kỳ 3 tháng/lần để theo dõi, phát hiện sớm bệnh; Cần chú ý vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày, không nên cố nhịn tiểu khi muốn tiểu, nên đi tiểu ngay sau khi giao hợp, sau khi đi đại tiện; Khi vệ sinh vùng âm hộ-hậu môn thì nên vệ sinh từ trước ra sau. 

Cần khám ngay khi có dấu hiệu viêm tiết niệu (đái buốt, đái dắt, đái nhiều lần). Ngoài ra, bà bầu nên uống đủ nước để giúp nước tiểu không cô đặc phòng sỏi hệ tiết niệu. 


BS. Nguyễn Kim Dung
Click đọc ngay…

Dấu hiệu nhận biết phì đại tuyến tiền liệt

23:06 |
Tuyến tiền liệt là tuyến nội tiết sinh dục nam giới, nằm dưới đáy bàng quang và sau niệu đạo. Chức năng chính của tuyến tiền liệt là tiết ra 1 chất dịch, hoà lẫn với tinh dịch tạo thành một phần của tinh dịch. Chất dịch này bảo vệ tinh dịch chống lại các tác nhân gây bệnh giúp cho tinh trùng hoạt động thuận lợi hơn và tạo điều kiện cho sự thụ thai trở nên dễ dàng. 

Khi mới sinh, tuyến tiền liệt có kích thước bằng hạt đậu Hà Lan. Tuyến này tiếp tục phát triển cho đến khi 20 tuổi, có kích thước 15-20g. Giai đoạn tuổi từ 30-45 kích thước tuyến tiền liệt duy trì ổn định 20g. Giai đoạn từ 45 tuổi trở lên tuyến tiền liệt phát triển không ổn định, kích thước dần phình to (phì đại tuyến tiền liệt). 


Mức độ phì đại tuyến tiền liệt ở mỗi người khác nhau, bình thường ở mức 20g tăng thêm từ 30-80g, cũng có người 100 - 200g. 

Nguyên nhân gây phì đại tuyến tiền liệt, do rối loạn nội tiết tố sinh dục nam; do lối sống như: uống ít nước, ăn nhiều chất béo, sử dụng nhiều chất kích thích (thuốc lá, cà phê...). Ngoài ra, những người sống trong môi trường ô nhiễm, người mắc bệnh đường tiết niệu (viêm bàng quang), đái tháo đường, tiền sử gia đình có người bị phì đại tuyến tiền liệt...có nguy cơ dễ mắc bệnh phì đại tuyến tiền liệt. 

Điều đáng nói, khi bị phì đại tuyến tiền liệt nhiều người không biết dấu hiệu của bệnh, ít chú ý tới những thay đổi bất thường khi đi tiểu. Sau đây là những dấu hiệu của bệnh: 

Tiểu tiện khó: Khi có cảm giác buồn đi tiểu nhưng phải đứng một lúc trong nhà vệ sinh mới đi tiểu được, dòng nước tiểu nhỏ, cảm giác tiểu tiện không có lực, có lúc đái rắt. 

Tiểu són: Nước tiểu tự bài tiết không thể kiềm chế khi ngủ. Nhiều trường hợp ban ngày cũng xuất hiện tình trạng tiểu són. 

Tiểu ngắt quãng: Bệnh phì đại tuyến tiền liệt thường đi kèm với sự hình thành của sỏi bàng quang, làm cho quá trình đi tiểu đột nhiên bị ngắt quãng. Các triệu chứng trên sẽ nặng hơn nếu gặp lạnh hay do thường xuyên uống rượu bia hoặc sử dụng thuốc chống cholinergic và thuốc thần kinh. 

Đi tiểu nhiều lần: Số lần đi tiểu ban ngày thường tăng lên 3-4 lần so với mức bình thường, 2-3 lần vào ban đêm. Khoảng cách giữa 2 lần đi tiểu ngắn, lúc nào cũng có cảm giác buồn đi tiểu. 

Ngoài những dấu hiệu điển hình trên, để chẩn đoán chính xác người bệnh nên đến cơ sở y tế để các bác sĩ siêu âm bướu tuyến tiền liệt đo độ nhô của tiền liệt tuyến và lượng nước tiểu tồn lưu. Dùng phương pháp PSA để biết đó là bướu lành hay ác tính. 

Mặc dù, phì đại tuyến tiền liệt không quá nguy hiểm và có nhiều loại thuốc giúp cải thiện đáng kể tình trạng rối loạn đi tiểu của người bệnh, cũng như có nhiều phương pháp can thiệp nhưng cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời tránh những biến chứng như: Sỏi bàng quang, nhiễm trùng niệu tái đi tái lại, bí tiểu mạn tính, suy giảm chức năng thận... và có thể suy thận. Do vậy, khi thấy những dấu hiệu của bệnh cần đến bác sĩ chuyên khoa được khám và điều trị kịp thời. 


Bác sĩ Nguyễn Trọng
Click đọc ngay…

Sỏi tiết niệu dễ gây biến chứng nguy hiểm

14:24 |
Sỏi tiết niệu là hiện tượng kết sỏi ở hệ tiết niệu, bao gồm sỏi thận, niệu quản, bàng quang, niệu đạo... Đây là bệnh lý thường gặp, nếu để lâu ngày không điều trị tốt dễ gây nhiều biến chứng nghiêm trọng. 

Nguyên nhân gây sỏi tiết niệu 

Sỏi tiết niệu do nhiều nguyên nhân gây nên. Quá trình hình thành sỏi thường bắt nguồn từ các muối khoáng hòa tan trong nước tiểu. 

Khi có những rối loạn về mặt sinh lý bệnh học và có những yếu tố thuận lợi như giảm lưu lượng nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, dị dạng đường tiết niệu hoặc có yếu tố di truyền thì các muối khoáng hòa tan sẽ kết tinh từ một nhân nhỏ rồi lớn dần thành sỏi. 


Những biến chứng thường gặp 

Sỏi thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp hay tắc nghẽn. Do đó những vị trí có sỏi thường là bể thận, niệu quản dưới hoặc sát bàng quang, cổ bàng quang, niệu đạo. 

Khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì niêm mạc dễ bị phù nề, viêm là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập, gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, tiểu buốt, tiểu giắt, tiểu đục. 70% sỏi thường tập trung một nơi, chỉ có 30% nằm ở những vị trí khác nhau. 

Sự di chuyển của sỏi ở thận, niệu quản, bàng quang, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát, va chạm vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng và tiểu ra máu. Khi các đài thận bị căng trướng nước tiểu, sẽ tạo ra áp lực cao, tác động vào thần kinh thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận thường do sỏi niệu quản. Khi sỏi kẹt trong niệu đạo hoặc ở bàng quang sẽ gây bí tiểu cấp tính hay mạn tính. 

Nếu nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Ngoài ra, viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn gây hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Sự hiện diện lâu ngày của sỏi dẫn đến hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có sỏi ở hai bên thận, nhất là khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận cấp hoặc mạn tính. 

Điều trị thế nào? 

Sỏi tiết niệu là một bệnh lý phức tạp, thường gây ra nhiều biến chứng. Vì vậy khi có biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa thận tiết niệu để được tư vấn và có biện pháp điều trị phù hợp. 

Tuỳ tình trạng bệnh, có những trường hợp cần can thiệp cấp cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến chứng đau nhiều, tiểu ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận. 


BS. Vũ Minh
Click đọc ngay…

Hội chứng thận hư ở trẻ do viêm đường hô hấp

21:34 |
Ở trẻ em, hội chứng thận hư tiên phát làm tổn thương cầu thận. Nếu trẻ mắc viêm đường hô hấp dễ bị thận hư. Ở trẻ em, hội chứng thận hư tiên phát làm tổn thương cầu thận. Nếu trẻ mắc viêm đường hô hấp dễ mắc hội chứng thận hư. 

Bệnh còn làm tổn thương nhiều cơ quan khác, hậu quả là trẻ không thể phát triển khỏe mạnh bình thường, dễ chết yểu. Mùa đông - xuân trẻ dễ bị nhiễm khuẩn hô hấp nên có nguy cơ cao mắc bệnh thận hư. 

Ở trẻ em, hội chứng thận hư (HCTH) thường xảy ra sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và trên cơ địa dị ứng. Bệnh gây tổn thương cầu thận mạn tính ở trẻ em. Tại Việt Nam, tuổi mắc bệnh trung bình là 8,7 tuổi; trẻ trai có tỷ lệ mắc bệnh gấp đôi so với trẻ gái. 


Dấu hiệu trẻ mắc bệnh 

Trẻ em bị HCTH thường có các triệu chứng: phù toàn thân với đặc điểm là phù trắng, phù mềm, ấn lõm, không đau. Lúc đầu trẻ bị phù đột ngột từ mặt lan xuống toàn thân. Có khi trẻ còn bị phù đa màng: màng bụng, màng phổi, màng tim, màng não. Đôi khi trẻ có đau bụng, có thể do căng màng bụng khi dịch báng quá nhiều gây đau hoặc do tắc mạch mạc treo, do rối loạn tiêu hóa, viêm phúc mạc... 

Đến bệnh viện khám bệnh, trẻ phải làm các xét nghiệm để xác định bệnh. Xét nghiệm nước tiểu thấy protein niệu trên 100mg/kg/24 giờ; có trụ thấu quang. Xét nghiệm máu có thể thấy giảm protein toàn phần dưới 40g/l. 

Làm điện di protein máu thấy albumin máu giảm dưới 25g/l; chất alpha2 globulin và bêta globulin tăng, gama globulin giảm nhiều vào giai đoạn muộn của bệnh. 

Điện di miễn dịch thấy IgM tăng cao và IgG giảm nhiều. Lipid máu và cholesterol máu tăng. Hồng cầu giảm, bạch cầu và tiểu cầu có thể tăng. Điện giải đồ có thể thấy giảm Na, K, Ca. 

Bệnh gây nhiều biến chứng HCTH thường gây ra một số biến chứng nặng gồm: nhiễm khuẩn, viêm phúc mạc, viêm phổi, viêm mô tế bào, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm khuẩn huyết. 

Nếu trẻ bị HCTH thường chậm phát triển, dễ bị suy dinh dưỡng, loãng xương, hay bị co giật do hạ canxi máu, thiếu máu, bướu tuyến giáp, thuyên tắc mạch mạc treo, tắc mạch ở phổi, ở các chi, bị những cơn đau bụng do phù mạc treo, phù tụy, viêm phúc mạc... 

Ngoài ra, trong quá trình điều trị, một số biến chứng cũng có thể xảy ra. Khi dùng thuốc corticoid liều mạnh và kéo dài sẽ gây rối loạn nước và điện giải; rối loạn nội tiết và chuyển hóa; loét dạ dày, ảnh hưởng nhiều cơ quan. 

Nếu dùng thuốc ức chế miễn dịch và ức chế tế bào ung thư có thể gây suy tủy, ung thư máu, nhiễm khuẩn, viêm bàng quang, chảy máu, rụng tóc... Bệnh nhi phải dùng thuốc lợi tiểu để chống phù có thể gây rối loạn điện giải như giảm Na, K máu, giảm thể tích máu tuần hoàn gây trụy tim mạch, suy thận. 

Hội chứng thận hư gần nhiều tác hại bất lợi cho trẻ

Những lưu ý khi điều trị hội chứng thận hư ở trẻ

Trong điều trị, bệnh nhi cần được nghỉ ngơi, điều trị triệu chứng phù với chế độ ăn nhạt, chỉ khoảng 2-3g muối/ngày; chỉ uống ít nước dưới 15ml/kg/ngày. Bệnh nhi rất cần được ăn nhiều đạm: từ 2-4g/kg/ngày. Trẻ cũng cần bổ sung các vitamin C và nhóm vitamin B. 

Giữ vệ sinh thân thể, mùa đông xuân cần giữ ấm cho trẻ bệnh bằng chế độ ăn uống đầy đủ và mặc quần áo ấm, quàng khăn, đội mũ giữ ấm vùng đầu, cổ, ngực. 

Vì hội chứng thận hư ở em rất hay tái phát nên bệnh nhi cần được theo dõi sát trong nhiều năm. Để thực hiện việc này, đòi hỏi cha mẹ và bệnh nhi cần tuân thủ chế độ điều trị nội trú ở bệnh viện cũng như việc điều trị ngoại trú một cách nghiêm túc. Bệnh nhi cần được theo dõi các chỉ số phát triển như chiều cao, cân nặng, huyết áp và các kết quả xét nghiệm giúp theo dõi bệnh như tốc độ máu lắng, protein niệu... 

Việc phòng bệnh rất quan trọng 

Nhiều trường hợp hội chứng thận hư thường xảy ra sau khi trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp hoặc các bệnh nhiễm khuẩn khác, nên các bậc cha mẹ cần chú ý chăm sóc trẻ, cho trẻ ăn uống đầy đủ, học tập và nghỉ ngơi hợp lý để tránh các bệnh nhiễm khuẩn. 

Luôn luôn vệ sinh nhà ở, lớp học tốt để tránh những nguy cơ nhiễm khuẩn qua hô hấp do ô nhiễm không khí, nhiễm khuẩn da, niêm mạc... 

Mùa đông xuân, cha mẹ cần cho trẻ mặc quần áo ấm, đội mũ, quàng khăn giữ ấm cho trẻ, nhất là vùng ngực cổ để phòng tránh các bệnh nhiễm khuẩn tai mũi họng. Thường xuyên cho trẻ đeo khẩu trang khi đi đường hay đến nơi đông người như chợ, lễ hội, đình đám... để tránh hít phải khói, bụi, vi khuẩn. Khi trẻ bị các bệnh nhiễm khuẩn, cần điều trị tích cực. 


BSCKI. Trịnh Anh Thư
Click đọc ngay…

Cơn đau quặn thận, bệnh dễ nhầm

09:19 |
Cơn đau bụng dưới như dao đâm, lăn lộn, quằn quại được gọi là cơn đau quặn thận. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu ở người trưởng thành. Cơn đau quặn thận có nguyên nhân của nó, có thể điều trị và phòng ngừa được. 

Nguyên nhân cơn đau quặn thận? 

Cơn đau quặn thận là cơn đau bụng vùng hố thắt lưng bao gồm nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó gặp nhiều nhất là do sỏi tiết niệu, đặc biệt là sự di chuyển của sỏi thận xuống niệu đạo làm tắc đường tiểu, ứ đọng nước tiểu, từ đó làm tăng áp lực trong đài - bể thận, gây tổn thương niệu quản dẫn đến đái máu. 


Sự hình thành sỏi thận thường do tích tụ các chất khoáng canxi, oxalate, cystine hoặc axít uric trong nước tiểu. Các dạng sỏi tiết niệu này hay gặp ở nam giới và có tỉ lệ cao gấp 3 lần so với nữ giới. Bệnh có thể gặp ở nhiều lứa tuổi, tuy nhiên độ tuổi hay gặp nhất là lứa tuổi trưởng thành và người cao tuổi. 

Cơn đau quặn thận còn có thể do huyết khối trong niệu quản hoặc khối u chèn ép niệu quản từ bên ngoài gây tắc cấp tính đường dẫn tiểu gây ứ nước tiểu, căng trướng đài bể thận đột ngột gây ra cơn đau quặn thận. 

Hoặc do viêm thận, bể thận (xuất huyết đài-bể thận gây chảy máu vùng đài-bể thận hình thành máu tụ trong bể thận dẫn đến tắc niệu quản), áp-xe thận, lao thận (gây viêm hít hẹp quanh niệu quản), u thận, viêm bàng quang cấp hoăc do ứ nước bể thận, ứ mủ bể thận hoặc u sau phúc mạc chèn ép vào niệu quản hoặc u niệu quản, u bàng quang gây hẹp lỗ niệu quản đổ vào bàng quang… gây cơn đau quặn thận. 

Đặc điểm của cơn đau quặn thận 

Đặc điểm nổi bật nhất là đột nhiên đau quặn bụng dưới một bên vùng hố thắt lưng, dữ dội, đau như cắt, đau lan ra sau lưng và lan ra phía trước vùng hạ sườn phải hoặc hạ sườn trái, lan xuống vùng bẹn, vùng sinh dục ngoài muốn tiểu nhưng không thể tiểu được và có thể đái rắt, buốt, đồng thời mặt tái, toát mồ hôi, muốn nôn hoặc nôn mửa, cơn đau quá mức có thể gây ngất lịm. 

Cơn đau thường kéo dài hơn 20 phút, đôi khi kéo dài cả tiếng đồng hồ, thậm chí lâu hơn trong vài giờ. Đau có thể kèm theo sốt hoặc ớn lạnh. Vị trí đau phụ thuộc vào vị trí sỏi và sự di chuyển của sỏi, ngoài ra có thể gặp cơn đau quặn thận trong các trường hợp viêm bể thận cấp tính, sỏi bể thận gây ứ nước cấp tính, gây sự căng trướng đột ngột của bao thận hoặc sỏi niệu quản ở 1/3 trên. 

Trong và sau cơn đau quặn thận có thể đái ra máu đại thể hoặc vi thể (mắt thường nhìn thấy hoặc phải xét nghiệm nước tiểu soi dưới kính hiển vi, thấy hồng cầu). Nên lưu ý là cơn đau quặn thận thường xuất hiện đột ngột sau khi chơi thể thao, lao động nặng hay đi đi ô tô hoặc xe đạp một quãng đường xa, đường ghồ ghề xóc nhiều. 


Cơn đau quặn thận có thể nhầm với bệnh gì? 

Cơn đau quặn thận dễ nhầm với bệnh viêm ruột thừa cấp tính hoặc nhầm với cơn đau quặn gan - mật khi đau bụng dưới bên phải. Hoặc nhầm với cơn đau cấp của bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng và đáng sợ hơn là bệnh thủng dạ dày hoặc viêm tụy cấp tính. 

Ngoài ra, có thể nhầm bệnh thủng ruột do bệnh thương hàn (do vi khuẩn Salmonella gây ra), hoặc thủng ruột do dùng thuốc corticoid, do thuốc chống viêm không steroid hoặc tắc ruột hoặc chữa ngoài tử cung vỡ (phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ). 

Cần chụp X-quang hệ tiết niệu, chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc tốt hơn là chụp cộng hưởng từ (MRI) hệ tiết niệu và cần chụp ổ bụng không chuẩn bị (có liềm hơi hay không). Bên cạnh đó nên xét nghiệm công thức máu, xét nghiệm nước tiểu toàn phần, và nên xét nghiệm phân tích thành phần của sỏi hệ tiết niết niệu. 

Nguyên tắc điều trị như thế nào? 

Khi có cơn đau quặn thận, cần khẩn trương đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Sau khi cấp cứu và xác định bệnh sẽ được chỉ định điều trị theo nguyên nhân, đặc biệt đề phòng các bệnh khác có tính chất đau giống đau quặn thận nhưng là cấp cứu ngoại khoa (viêm ruột thừa, thủng dạ dày, tắc ruột, phụ nữ chửa ngoài dạ con…). 

Với bệnh sỏi tiết niệu có thể điều trị nội khoa (dùng thuốc) hoặc can thiệp bằng ngoại khoa (tán sỏi, mổ lấy sỏi,…). Người bệnh và người nhà không nên chủ quan để tránh xẩy ra hậu quả đáng tiếc, do đến bệnh viện chậm trễ. 

Lời khuyên của thầy thuốc 

Căn nguyên gây cơn đau quặn thận có nhiều nhưng đa số là bệnh của hệ tiết niệu, trong đó sỏi tiết niệu đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy, việc xét nghiệm phân tích thành phần của sỏi tiệt niệu là rất cần thiết để giúp cho phòng bệnh sỏi tiết niệu có hiệu quả hơn. 

Để phòng bệnh đau quặn thận do sỏi hệ tiết niệu, cần uống nhiều nước, không nên nhịn tiểu, tránh ngồi lâu và tránh làm các việc nặng. Để tránh mắc sỏi thận là canxi, cần giảm hàm lượng thức ăn có chứa canxi (tôm, cua, ốc...). 

Ngoài ra cần vận động cơ thể đều đặn hàng ngày tùy theo điều kiện của từng người nhằm làm cho khí huyết lưu thông, giúp thận bài tiết nước tiểu đều đặn tránh ứ đọng gây sỏi. 


PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Click đọc ngay…

Nước tiểu đục, có phải là bệnh?

10:13 |
Ở một người khỏe mạnh, nước tiểu thường trong hoặc có màu hơi vàng nhạt. Vậy khi nước tiểu có màu đục là biểu hiện của bệnh gì? Có rất nhiều nguyên nhân làm cho nước tiểu đục do chế độ ăn uống hoặc cơ thể mắc một số bệnh lý nào đó... 

Một số nguyên nhân thường gặp: 

Uống không đủ nước



Một nguyên nhân khác khiến nước tiểu bị đục đó là do chúng ta không uống đủ nước hàng ngày. Lượng nước không đủ nên không thể lọc hết được những gì bên trong đường tiết niệu. 

Cách khắc phục đơn giản là uống thêm nước mỗi ngày (đảm bảo mỗi ngày uống đủ 1-2 lít), nước tiểu sẽ trở lại bình thường. 

Do thực phẩm

Các loại thực phẩm chúng ta ăn có ảnh hưởng tới màu sắc và biểu hiện của nước tiểu. Nếu ăn nhiều thịt, gia vị và thực phẩm có dầu sẽ làm cho nước tiểu đục và nặng mùi hơn. Ngoài ra, nước cam, sữa, củ cải đường và măng tây cũng có thể làm cho nước tiểu đục. Tương tự như vậy, rượu sẽ làm mất đi độ trong của nước tiểu. 

Nếu thay đổi khẩu phần dinh dưỡng ăn hàng ngày nước tiểu sẽ trong và trở lại bình thường. Ăn nhiều trái cây và rau quả sẽ làm cho nước tiểu trong và không có mùi. 

Do dùng thuốc

Một số thuốc cũng có thể dẫn đến hiện tượng nước tiểu đục. Khi uống các loại thuốc như: Thuốc điều trị đái tháo đường; Vitamin B và vitamin C bởi hai loại vitamin này có chứa phốt pho. 

Tóm lại, nếu nước tiểu đục do uống thiếu nước, thực phẩm thì cần thay đổi khẩu phần ăn thường xuyên, uống đủ nước. Tuy nhiên nước tiểu đục kèm theo một số triệu chứng của bệnh lý cần đến cơ sở y tế khám và điều trị kịp thời.

Nhiễm trùng đường tiết niệu

Vi khuẩn hoặc vi rút có thể xâm nhập và gây tổn thương, gây bệnh bên trong đường tiết niệu, làm cho nước tiểu chuyển sang màu đục. Ngoài ra, khi bị nhiễm trùng đường tiết niệu, người bệnh cũng có thể kèm theo cảm giác đau, và nóng rát khi đi tiểu. 



Viêm niệu đạo do lậu, Chlamydia

Ngoài triệu chứng nước tiểu đục, người bệnh sẽ có những triệu chứng khác như tiểu gắt buốt, sốt, đau hông lưng. Thậm chí tiểu có mủ. Cần đến cơ sở y tế để siêu âm, xét nghiệm nước tiểu giúp chẩn đoán bệnh. 

Tiểu dưỡng chấp

Là do có đường rò từ hệ thống mạch bạch huyết vào đường tiết niệu, làm cho có dưỡng chấp trong nước tiểu. Dưỡng chấp là chất có trong hệ thống mạch bạch huyết, thành phần chủ yếu là lipid. 

Triệu chứng của tiểu dưỡng chấp là nước tiểu trắng đục như sữa hoặc như nước vo gạo, có những váng mỡ, để lắng lại có những mảng keo, mảng trắng như sữa đông hoặc mỡ đông. Hiện tượng này xảy ra từng đợt không liên tục. 

Tiểu phosphate

Là hiện tượng do có nhiều phosphate bài tiết trong nước tiểu. Thỉnh thoảng đi tiểu thấy nước tiểu đục như nước vo gạo (thường gặp vào buổi sáng), để lắng lại thì thấy có cặn như cặn vôi. Những lúc khác người đó đi tiểu trong. 

Hiện tượng tiểu phosphate không phải là bệnh lý. Nhưng nếu tình trạng kéo dài và người đó uống ít nước thì dễ bị sỏi thận do tinh thể phosphate lắng đọng. 


Bác sĩ Vũ Thị Thu
Click đọc ngay…